Soạn văn 10
Tổng kết phần văn học

Soạn văn 10

Tổng kết phần văn học

Hướng dẫn trả lời
Hướng dẫn trả lời
Câu 2 Trang 146 SGK Ngữ Văn 10 - Tập 2

Về bộ phận văn học dân gian, có các trọng tâm kiến thức:

– Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian.

– Hệ thống thể loại văn học dân gian Việt Nam.

– Những giá trị của văn học dân gian Việt Nam.

Để nắm được những trọng tâm kiến thức nói trên, có thể ôn tập theo các gợi‎ ý‎ sau:

a) Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian. Văn học dân gian bao gồm những thể loại nào? Chỉ ra những đặc trưng chủ yếu nhất của từng thể loại.

b) Chọn phân tích một số tác phẩm (hoặc trích đoạn tác phẩm) văn học dân gian đã học (hoặc đã đọc) để làm nổi bật đặc điểm nội dung và nghệ thuật của sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện thơ, truyện cười, ca dao, tục ngữ.

c) Kể lại một số truyện dân gian, đọc thuộc một số câu ca dao, tục ngữ mà anh (chị) thích.

a. Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian: tính truyền miệng, tính tập thể, tính thực hành (ngoài ra còn có tính dị bản…).

Hệ thống thể loại và đặc trưng của từng thể loại:

  • Thần thoại: Kể về các vị thần xuất hiện từ thời kì hồng hoang nguyên thủy nhằm giải thích sự hình thành thế giới, các hiện tượng tự nhiên.
  • Sử thi: Những tác phẩm có quy mô khá lớn, kể về những đề tài trọng đại, liên quan đến vận mệnh của cộng đồng, phản ánh những nhân vật đại diện cho sức mạnh và phẩm chất của cộng động với giọng điệu ngợi ca.
  • Truyền thuyết: Phản ánh lịch sử (sự kiện và nhân vật lịch sử) qua cái nhìn, nhận định của nhân dân. Truyền thuyết vừa có yếu tố lịch sử vừa có yếu tố hư cấu, kì ảo.
  • Truyện cổ tích: Kể về những con người bất hạnh, nghèo khổ trong xã hội có sự phân chia giai cấp, phân hóa giàu nghèo nhằm phản ánh ước mơ về hạnh phúc và công bằng xã hội.
  • Truyện cười: Cười những mâu thuẫn trái tự nhiên, những hiện tượng xung đột giữa nội dung và hình thức, từ đó hướng tới mục đích giải trí, giáo dục và phê phán những thói hư tật xấu, cái ác trong đời sống xã hội. Truyện cười thường chứa đựng mâu thuẫn gây cười, tình huống gây cười và có kết thúc bất ngờ.
  • Truyện thơ: Bộc lộ tâm trạng của con người khi rơi vào những hoàn cảnh bất hạnh, bất công.
  • Truyện ngụ ngôn: Là những câu chuyện ngắn gọn, cô đọng kể về người hoặc vật để gửi gắm một bài học triết lí sâu xa.
  • Tục ngữ: Những câu nói ngắn gọn, hàm súc, có vần, có nhịp dùng để phản ánh kinh nghiệm của con người trong sản xuất và trong cuộc sống.
  • Câu đố: Là những bài văn vần hoặc câu nói có vần miêu tả những đối tượng quen thuộc nhưng bằng cách khác lạ để người nghe suy đoán, từ đó rèn luyện tư duy và nhằm mục đích giải trí.
  • Ca dao: Là những bài thơ trữ tình dân gian thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng nhằm phản ánh đời sống tâm tư, tình cảm của con người.
  • Vè: Là những tác phẩm tự sự viết bằng văn vần kể lại các sự kiện, các sự việc nhằm mục đích thông báo và bình luận.
  • Sân khấu dân gian: Loại hình nghệ thuật tổng hợp kết hợp, kết hợp giữa lời thơ dân gian với âm nhạc, được tái hiện trên sân khấu với sự tham gia của các diễn viên dân gian một cách sống động.

b. Chọn một số tác phẩm để phân tích làm rõ đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thể loại:

VD 1: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy thể hiện rõ đặc trưng của thể loại truyền thuyết:

Nội dung:

  • Viết về đề tài lịch sử (kể về việc xây thành Cổ Loa của Thục Phán An Dương Vương với sự giúp sức của rùa ràng và bi kịch Mị Châu – Trọng Thủy gắn với thất bại của Âu Lạc.
  • Phản ánh lịch sử theo quan điểm và tình cảm của nhân dân: biết ơn, ca ngợi công lao xây thành của An Dương Vương (nên sáng tạo nhân vật Rùa Vàng giúp vua xây thành; để An Dương Vương đi xuống biển hóa bất tử ở cuối truyện), vừa thương xót vừa trách than cho sự nhẹ dạ, cả tin của nàng Mị Châu (kết cục mất nước, Mị Châu bị chém đầu, sau khi chết được hóa giải nỗi oan).
  • Gửi gắm bài học lịch sử: Cần đề cao cảnh giác với kẻ thù; Phải có cách giải quyết tỉnh táo, đúng đắn mối quan hệ giữa riêng và chung, nhà và nước.

Nghệ thuật: Kết hợp yếu tố lịch sử (việc xây thành Cổ Loa, chế tạo vũ khí, nhân vật lịch sử có thật An Dương Vương, Triệu Đà) và yếu tố hư cấu li kì (thần Rùa Vàng, móng rùa làm nỏ thần, sự hóa thân thành ngọc trai của Mị Châu sau khi chết…).

VD 2: Bài ca dao

Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

Nội dung: phản ánh tâm tư, tình cảm, đời sống nội tâm của nhân dân (bài ca dao trên bày tỏ nỗi niềm xót xa, lo lắng của cô gái xưa tự ý thức được giá trị của mình nhưng không khỏi bi quan trước số phận bấp bênh của mình vì không được tự quyết định hạnh phúc riêng).

Nghệ thuật: giàu chất trữ tình, lối so sánh ví von giàu hình ảnh, có sức gợi hình gợi cảm cao (Bài ca dao trên sử dụng motip “thân em” gợi chủ đề thân phận người phụ nữ quen thuộc trong ca dao, biện pháp so sánh giàu sức biểu đạt, từ láy “phất phơ” gợi số phận bấp bênh, lối nói mềm mại, giàu tâm trạng).

c. Kể lại một số truyện dân gian, đọc một số câu ca dao em yêu thích (HS tự lựa chọn).

Câu 3 Trang 146 SGK Ngữ Văn 10 - Tập 2

Văn học viết Việt Nam gồm: văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (văn học trung đại) và văn học từ đầu thế kỉ XX đến nay (văn học hiện đại). Cần nắm được đặc điểm chung và đặc điểm riêng của văn học trung đại và văn học hiện đại theo các gợi ‎ý sau:

a) Những nội dung lớn của văn học Việt Nam trong quá trình phát triển.

b) Văn học viết Việt Nam phát triển trong sự ảnh hưởng qua lại với các yếu tố truyền thống dân tộc, tiếp biến văn học nước ngoài như thế nào? Nêu một số hiện tượng văn học tiêu biểu để chứng minh.

c) Sự khác nhau giữa văn học trung đại và văn học hiện đại về ngôn ngữ và hệ thống thể loại.

a. Những nội dung lớn của văn học Việt Nam trong quá trình phát triển: chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, cảm hứng thế sự.

b. Văn học viết Việt Nam trong ảnh hưởng qua lại với các yếu tố truyền thống dân tộc (văn học dân gian cũng chịu ảnh hưởng ngược lại của văn học viết để trở nên trau chuốt, hoàn thiện hơn):

Văn học viết thẩm thấu và chịu ảnh hưởng của văn hóa dân gian, văn học dân gian. VD: thơ ca Nguyễn Du, Nguyễn Bính thể hiện sự tiếp thu ca dao:

  • “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có viết: Vầng trăng ai xẻ làm đôi/Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường (mang dáng dấp của câu ca dao Vầng trăng ai xẻ làm đôi/Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?).
  • “Tương tư” của Nguyễn Bính viết: Nhà em có một giàn trầu/Nhà anh có một hàng cau liên phòng/Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông/Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào? (các hình ảnh trầu, câu tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, sự gắn kết vợ chồng trong phong tục cổ truyền nước ta; lối nói bóng gió tế nhị học hỏi trong ca dao).
  • Văn học viết trong sự tiếp biến với văn học nước ngoài: tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo cho phù hợp với bản sắc riêng của mình. Ví dụ:
  • Tiếp biến với văn học Trung Quốc: sáng tác bằng chữ Hán, tiếp thu các thể thơ nhà Đường, sử dụng nhiều điển tích điển cố của Trung Quốc… (VD: bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão có nhắc đến Vũ hầu, một nhân vật xuất chúng trong lịch sử Trung Quốc để nói về hoài bão của mình).
  • Tiếp biến với văn học phương Tây: ảnh hưởng nhiều bởi văn học Pháp (các nhà thơ mới thể hiện rõ ảnh hưởng này trong tư tưởng và diễn đạt mới mẻ khác hẳn văn học trung đại: Xuân Diệu, Huy Cận…).

c. Sự khác nhau giữa VHTĐ và VHHĐ về ngôn ngữ và hệ thống thể loại:

  • Văn học trung đại: (Thế kỉ X đến hết Thế kỉ XIX):
    • Ngôn ngữ:  Chữ Hán là chữ viết chính thức; dùng nhiều từ Hán, chịu ảnh hưởng của lối diễn đạt Hán ngữ. Sử dụng nhiều điển cố, điển tích, theo lối ước lệ, tượng trưng, thường xuyên sử dụng lối văn biền ngẫu trong diễn đạt.
    • Hệ thống thế loại:  Lấy các thể loại trong văn học Hán làm cơ bản: thơ Đường luật, tiểu thuyết chương hồi, cáo, hịch… một số thể thơ đặc trưng của dân tộc như thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn xen lục ngôn…
  • Văn học hiện đại (Từ đầu Thế kỉ XX ):
    • Ngôn ngữ: Viết bằng chữ quốc ngữ, lối diễn đạt trong sáng, giàu hình ảnh.
    • Hệ thống thể loại: Xoá bỏ dần thơ Đường luật, thay bằng các thể thơ tự do; thơ thất ngôn không chiếm ưu thế như trước; bỏ tiểu thuyết chương hồi, thay bằng tiểu thuyết hiện đại kiểu phương Tây; bỏ các thể cáo, hịch, chiếu, chỉ dụ, văn tế… chuyển thành các dạng văn xuôi hiện đại; các thể loại truyện ngắn, truyện vừa, kí, phóng sự, tuỳ bút ra đời và chiếm ưu thế…
Câu 4 Trang 146 SGK Ngữ Văn 10 - Tập 2

Để nắm khái quát phần văn học viết Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 10, có thể ôn tập theo những gợi ý‎ sau:

a) Văn học viết Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX bao gồm những thành phần nào? Phát triển qua mấy giai đoạn? Những đặc điểm lớn về nội dung và nghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam.

b) Thống kê những thể loại văn học trung đại mà anh (chị) đã học. Nêu đặc điểm chủ yếu của một số thể loại tiêu biểu như chiếu, cáo, phú, thơ Đường luật, thơ Nôm Đường luật, ngâm khúc, hát nói.

c) Nêu những tác giả, tác phẩm văn học tiêu biểu bằng cách lập bảng:

a. Văn học viết Việt Nam từ thế kỉ X đến hết XIX gồm hai thành phần: văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm.

Văn học thời kì này phát triển thành 4 giai đoạn: từ thế kỉ X đến XIV, XV đến XVII, XVIII đến nửa đầu XIX và nửa cuối XIX.

Đặc điểm nội dung của văn học trung đại: chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, cảm hứng thế sự.

Đặc điểm nghệ thuật của văn học trung đại: tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã, tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.

b. Thống kê và nêu đặc trưng các thể loại văn học trung đại đã học:

  • Chiếu: Văn bản do nhà vua ban hành dùng để thông báo hoặc ban mệnh lệnh đến quan lại, dân chúng.
  • Cáo: Do vua hoặc thủ lĩnh bố cáo trước đông đảo quần thần và dân chúng về một nội dung mang tính chất trọng đại nào đó của đất nước.
  • Phú: Thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi, dùng để tả cảnh vật, phong tục, kể sự việc, bàn chuyện đời…
  • Hịch: hể văn nghị luận được vua chúa hoặc tướng lĩnh thời xưa dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi chống thù trong giặc ngoài.
  • Thơ Đường luật: Thể thơ có quy định nghiêm ngặt và phức tạp được tiếp thu từ nhà Đường ở Trung Quốc (VD: thất ngôn bát cú Đường luật, thất ngôn tứ tuyệt Đường luật).
  • Truyện thơ: Truyện kể bằng thơ, vừa có yếu tố tự sự vửa có yếu tố trữ tình.
  • Ngâm khúc: Thể loại trữ tình trường thiên thuần túy Việt Nam thường được viết bằng thể thơ song thất lục bát để bày tỏ tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình.

c. Nêu những tác gia, tác phẩm văn học tiêu biểu:

Tác giả

Tác phẩm

Đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật

Phạm Ngũ Lão

Thuật hoài

+ Khắc họa vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng, có nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.

+ Ngắn gọn, súc tích, hình tượng kì vĩ.

Nguyễn Trãi

Cảnh ngày hè

+ Khăc họa bức tranh ngày hè tươi đẹp, sống động, đầy sức sống và tình yêu thiên nhiên, yêu đời cháy bỏng của tác giả.

+ Thơ Nôm bình dị, tự nhiên, đan xen câu lục ngôn trong bài Đường luật.

 

Bình Ngô đại cáo

+ Áng thiên cổ hùng văn tổng kết chiến thắng vang dội của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, tuyên bố độc lập chủ quyền của dân tộc Đại Việt.

+ Kết hợp mạch chính luận sắc sảo và mạch trữ tình mãnh liệt, lối văn biền ngẫu được phát huy hết tác dụng, ngôn ngữ gợi cảm, gợi hình.

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nhàn

+ Bài thơ như lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên danh lợi.

+ Kết hợp giữa triết lí và trữ tình, cách nói ẩn ý, sâu sắc.

Trương Hán Siêu

Phú sông Bạch Đằng

+ Qua những hoài niệm về quá khứ, bài thơ bộc lộ lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trước chiến công lịch sử trên dòng Bạch Đằng oanh liệt.

+ Đạt đỉnh cao của nghệ thuật phú trong văn học trung đại.

Nguyễn Du

Độc Tiểu Thanh kí

+ Bài thơ thể hiện cảm xúc, suy tư của Nguyễn Du về số phận bất hạnh của người phụ nữ có tài năng văn chương trong xã hội phong kiến.

+ Bài thơ hàm súc, cô đọng, giàu sức gợi.

 

Truyện Kiều

+ Phản ánh cuộc sống truân chuyên, đau khổ của nàng Kiều tài sắc và giàu nhân cách trong xã hội phong kiến suy tàn tàn bạo, bất công.

+ Truyện thấm đẫm giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực.

Hoàng Đức Lương

Tựa Trích diễm thi tập

+ Bài tựa bày tỏ niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm của Hoàng Đức Lương trong việc bảo tồn di sản văn học của tiền nhân, từ đó có thái độ trân trọng và yêu quý di sản.

+ Nghệ thuật lập luận sắc sảo, chặt chẽ, rành mạch.

Ngô Sĩ Liên

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Thái sư Trần Thủ Độ

+ Cảm phục và tự hào về tài năng, phẩm chất của những bậc anh hùng dân tộc.

+ Tác phẩm lịch sử nhưng đậm chất văn chương với nghệ thuật kể chuyện lôi cuốn và nhân vật hấp dẫn.

Nguyễn Dữ

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên

+ Ca ngợi tính cách dũng cảm, kiên cường của Ngô Tử Văn – đại diện cho người trí thức dân tộc chính nghĩa chống lại gian tà.

+ Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, giàu kịch tích, yếu tố hư cấu.

Đặng Trần Côn

Chinh phụ ngâm

+ Cảm nhận được nỗi đau, tình cảnh bi kịch của người chinh phụ có chồng chinh chiến phương xa, qua đó thấy được giá trị của hạnh phúc con người.

+ Nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế.

Câu 5 Trang 146 SGK Ngữ Văn 10 - Tập 2

Hai nội dung lớn của văn học trung đại Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo.

Chủ nghĩa yêu nước trong văn học trung đại gắn với tư tưởng “trung quân ái quốc” và truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước thể hiện rất phong phú, đa dạng, tập trung ở một số phương tiện: ‎ thức độc lập, tự chủ, tự cường, tự tôn dân tộc ; lòng căm thù giặc, tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược; tự hào trước chiến công thời đại, trước truyền thống lịch sử, biết ơn, ca ngợi những người hi sinh vì Tổ quốc, tình yêu thiên nhiên đất nước…

Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại vừa bắt nguồn từ truyền thống nhân văn của người Việt Nam vừa tiếp thu tư tưởng nhân văn tích cực vốn có của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo. Chủ nghĩa nhân đạo thể hiện rất phong phú, đa dạng, tập trung ở một số nội dung: thương người; lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên con người; khẳng định, đề cao con người về các mặt phẩm chất, tài năng, những khát vọng chân chính; đề cao những quan hệ đạo đức, đạo lí tốt đẹp giữa người với người…

a) Phân tích nội dung yêu nước qua:
– Thơ phú thời Lí
– Trần (Vận nước của Pháp Thuận, Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu, Hứng trở về của Nguyễn Trung Ngạn).
– Sáng tác của Nguyễn Trãi (Đại cáo bình Ngô, Cảnh ngày hè).
– Các tác phẩm viết về lịch sử (những trích đoạn từ Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu, Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên).
– Các tác phẩm nghị luận (Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương, Hiền tài là nguyên khí của quốc gia của Thân Nhân Trung).

b) Phân tích nội dung nhân đạo qua:
– Thơ (bài kệ Cáo bệnh, bảo mọi người của Mãn Giác, Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du).
– Ngâm khúc (Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, đi sâu vào những trích đoạn đã học).
– Truyện (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ).
– Truyện thơ (Truyện Kiều của Nguyễn Du, đi sâu vào những trích đoạn đã học).

a. Phân tích nội dung yêu nước qua các tác phẩm đã liệt kê:

  • Gắn với tư tưởng trung quân ái quốc:
  • Tình yêu thiên nhiên, cảnh trí nước nhà: tình yêu và nỗi nhớ quê nhà trong bài Hứng trở về, bức tranh ngày hè sống động chan chứa tình yêu quê hương trong Cảnh ngày hè.
  • Ý thức độc lập tự chủ, tự tôn dân tộc: niềm vui trước vận nước cường thịnh trong bài Vận nước, khát khao cống hiến cho non sông trong bài Thuật hoài, ý thức về di sản văn hóa văn học của dân tộc trong Tựa Trích diễm thi thi tập, ý thức xây dựng đội ngũ hiền tài cho quốc gia trong Hiền tài là nguyên khí quốc gia.
  • Lòng câm thù giặc, quyết tâm chiến thắng kẻ thù: lòng căm thù và quyết tâm chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn trong Đại cáo bình Ngô.
  • Niềm tự hào trước truyền thống dân tộc và chiến công của nước nhà: cảm hứng lịch sử và niềm tự hào về chiếng thắng vẻ vang của dân tộc trong bài Phú sông Bạch Đằng, bản tổng kết chiến thắng hào hùng trong Đại cáo bình Ngô, niềm tự hào về những anh hùng hào kiệt trong Đại Việt sử kí toàn thư.

b. Phân tích nội dung nhân đạo qua các tác phẩm đã liệt kê:

Lòng thương người, sự cảm thông sâu sắc với số phận của con người: nỗi xót thương thân phận tài hoa bạc mệnh của những người phụ nữ trong bài Độc Tiểu Thanh kí, Truyện Kiều, sự cảm thông sâu sắc với bi kịch của người chinh phụ có chồng chinh chiến nơi xa trong Chinh phụ ngâm.

  • Lên án thế lực đen tối chà đạp con người:
  • Đề cao vẻ đẹp của con người: đề cao vẻ đẹp tâm hồn con người qua quan niệm sống nhàn thanh cao trong bài Nhàn, vẻ đẹp bản lĩnh và lạc quan của con người trước cái chết trong bài Cáo tật thị chúng, vẻ đẹp dũng cảm, bản lĩnh của trí thức nước Việt dám đấu tranh chống lại gian tà trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên; vẻ đẹp nhân cách và ngoại hình của Thúy Kiều trong Truyện Kiều.
Câu 6 Trang 148 SGK Ngữ Văn 10 - Tập 2

Phần văn học nước ngoài trong chương trình Ngữ văn lớp 10 gồm một số thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học cổ đại Hi Lạp, Ấn Độ, văn học trung đại Trung Quốc, Nhật Bản, những thể loại lớn như sử thi, thơ Đường luật, thơ hai-cư, tiểu thuyết chương hồi.

Để nắm được những kiến thức cơ bản của phần văn học nước ngoài, có thể ôn tập theo những gợi ý‎ sau:

a) So sánh để rút ra vài nhận xét về sự giống nhau, khác nhau về nội dung và hình thức giữa các thiên sử thi: Đăm Săn (Việt Nam), Ô-đi-xê (Hi Lạp), Ra-ma-ya-na (Ấn Độ).

b) Những nét đặc sắc của thơ Đường về nội dung và hình thức. Nêu một số điểm mà anh (chị) cảm thấy hay nhất ở những bài thơ Đường đã học. Nêu lên những nét đặc sắc khác nhau giữa thơ Đường (Trung Quốc) và thơ Hai-cư (Nhật Bản).

c) Qua đoạn trích từ Tam quốc diễn nghĩa, nêu nhận xét về lối kể chuyện và khắc họa tính cách nhân vật của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc.

a. So sánh ba thiên sử thi: 

  • Giống: đều phản ánh những đề tài lớn lao, những vấn đề chung của cộng đồng; đều xây dựng những hình tượng nhân vật có sức mạnh và vẻ đẹp đại diện cho cộng đồng; đều có yếu tố thần linh huyền bí.
  • Khác:
    • Đăm Săn: có quy mô khiêm tốn hơn, phản ánh đề tài chiến tranh với hình tượng người tù trưởng anh hùng có sức mạnh vô biên.
    • Ô-đi-xê: quy mô cuốn sử thi lớn, phản ánh trí thông minh tuyệt đỉnh và sự chung thủy sắt son của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp sau 20 năm hội ngộ trong hoàn cảnh ngặt nghèo.
    • Ra-ma-ya-na: đề cao danh dự và tình yêu, trong đó con người mang vẻ đẹp rực rỡ của danh dự và lòng tự trọng.

b. So sánh thơ Đường và thơ Hai-cư:

  •  Đặc sắc của thơ Đường:
    • Về nội dung: rất quan tâm đến hai đề tài chính là thiên nhiên và thế sự, qua đó bộc lộ tư tưởng nhân đạo, sự ưu thời mẫn thế, tư tưởng trung quân ái quốc, cùng những tấm lòng vì nước vì dân, …
    • Về nghệ thuật: Thơ Đường có những quy định nghiêm ngặt về niêm, luật; nghệ thuật đối đã được đẩy lên mức độ cao nhất; thi pháp thơ Đường cũng đạt đến trình độ phát triển rất cao, từng là mẫu mực cho thơ phương Đông trong nhiều thế kỉ.
  • Đặc sắc của thơ hai-cư:
    • Về nội dung: chỉ ghi lại một cảnh, vật đơn sơ, nhưng qua đó gợi cho người đọc liên tưởng, suy tư để tìm thấy một triết lí nào đấy, …
    • Về nghệ thuật: Thơ hai-cư dùng rất ít ngôn từ (khoảng 17 chữ), không tả mà chỉ gợi, dựa trên các phạm trù thẩm mĩ như vắng lặng, Đơn sơ, U huyền, Mềm mại, Nhẹ nhàng, …(Thấm đẫm chất Thiền tông).

c. Qua đoạn trích từ Tam quốc diễn nghĩa, có thể rút ra một số điều về tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc:

  • Lối kể chuyện: ngắn gọn, thiên về sự kiện, giàu kịch tính;
  • Nghệ thuật khắc họa nhân vật: nhân vật được cá thể hóa cao độ, sắc nét qua những yếu tố ngoại hiện như hành động, lời nói, sự lựa chọn đầy quyết liệt và mạnh mẽ.
Câu 7 Trang 149 SGK Ngữ Văn 10 - Tập 2

Ôn tập phần Lí luận văn học, HS cần nắm lại những khái niệm cơ bản về văn bản văn học đồng thời viết vận dụng những kiến thức đã học để tìm hiểu, phân tích các tác phẩm văn học. HS có thể ôn tập theo những câu hỏi sau:

a) Những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học là gì?

b) Nêu những tầng cấu trúc của văn bản văn học.

c) Trình bày những khái niệm thuộc về nội dung và những khái niệm thuộc về hình thức của văn bản văn học. Cho một số ví dụ để làm sáng tỏ.

d) Nội dung và hình thức của văn bản văn học có quan hệ với nhau như thế nào? Cho một số ví dụ để làm sáng tỏ.

a. Tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học:

  • Đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tư tưởng, tình cảm, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.
  • Xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao.
  • Xây dựng theo một phương thức riêng, mỗi VBVH đều thuộc một thể loại nhất định.

b. Những tầng cấu trúc của văn bản văn học: Văn bản văn học gồm nhiều tầng cấu trúc: ngôn ngữ, hình tượng, hàm nghĩa (các lớp nghĩa hàm ẩn: đề tài, chủ đề, phong cách nhà văn…).

c. Những khái niệm thuộc về nội dung:

  • Đề tài: Phạm vi hiện thực cuộc sống mà tác phẩm đề cập tới. Ví dụ: đề tài nông thôn, đề tài thành thị…
  • Chủ đề (hay tư tưởng – chủ đề): là vấn đề mà tác phẩm trực tiếp đặt ra trong tác phẩm, cũng tức là cái mà các hình tượng phải tập trung biểu hiện. Ví dụ: Bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi có chủ đề là “ca ngợi cuộc sống thái bình”.
  • Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng xuyên suốt bài thơ, nhất là những bài thơ trực tiếp biểu cảm. Ví dụ: bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão có cảm hứng chủ đạo là “khát vọng lập công vì nước, trả nợ tang bồng”.

Những khái niệm thuộc hình thức:

  • Ngôn từ: Là lớp vỏ bên ngoài của tác phẩm. Ngôn từ bạo gồm các đơn vị, âm thanh, từ, ngữ và câu. Ý nghĩa do các đơn vị ngôn từ trực tiếp biểu thị hay gợi ra là chất liệu quan trọng nhất để xây dựng hình tượng trong tác phẩm.
  • Kết cấu: Là mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành tác phẩm, các yếu tố đó thường được sắp xếp một cách nghệ thuật. Chẳng hạn: các bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường kết cấu theo mẫu: Đề – Thực – Luận – Kết.
  • Thể loại: Là những thể thức sáng tạo mang những đặc điểm riêng của mỗi loại. Ví dụ: thể thơ thất ngôn Đường luật, thể lục bát, thể phú, hịch, cáo… Tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi thuộc thể cáo, bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu thuộc thể phú.

d. Nội dung và hình thức của văn bản văn học có mối quan hệ thống nhất, không tách rời. Nội dung chỉ có thể tồn tại trong một hình thức nhất định và bất kì hình thức nào cũng mang một nội dung. Sự hài hòa giữa nội dung cao đẹp và hình thức hoàn mĩ là phẩm chất của các văn bản văn học ưu tú.

Ví dụ: Khi nói ngôn từ là lớp vỏ của tác phẩm, thuộc hình thức, nhưng ý nghĩa của nó, tất cả những nội dung hàm ẩn đều do ngôn từ gợi nên; cho nên, khó có thể tách bạch đâu là hình thức, đâu là nội dung của tác phẩm văn học.

{{lessonTitle}} Bình luận